Phiên 03/11/2026, cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) đóng cửa ở 21.000 đồng. Với 3,11 tỷ cổ phiếu lưu hành, vốn hóa khoảng 65.300 tỷ đồng.
Câu chuyện của Vietnam Airlines trong một đoạn: đây là hãng bay quốc gia, chiếm khoảng 42–45% thị phần nội địa (theo SHS). Covid làm hãng lỗ hơn 40.000 tỷ đồng trong 4 năm, vốn chủ âm, phải nhờ Nhà nước bơm vốn hai lần. Năm 2024 và 2025 hãng lãi trở lại mỗi năm hơn 7.000 tỷ. Rồi năm 2026, giá nhiên liệu bay tăng vọt theo căng thẳng Trung Đông và lấy đi gần nửa phần lãi đó, dù hãng bán vé nhiều hơn bao giờ hết. Ở giá 21.000 đồng, nhà đầu tư đang trả khoảng 16 năm lợi nhuận của 4 quý gần nhất. Giá này chỉ hợp lý nếu chúng ta tin giá nhiên liệu sẽ hạ trong năm 2027 và lợi nhuận quay về mức của 2024–2025.
1. Vietnam Airlines kiếm tiền thế nào
Thử hình dung một chiếc xe khách đường dài. Chủ xe thu tiền vé, nhưng phần lớn tiền đó đi trả xăng, trả góp xe, lương tài xế và phí cầu đường. Lãi nằm ở chỗ xe chạy đủ khách và giá xăng không lên quá nhanh. Vietnam Airlines là chiếc xe khách đó, nhân lên vài trăm lần và bay trên trời.
Khách trả tiền là hành khách mua vé (nội địa và quốc tế) và chủ hàng gửi hàng hóa. Ngoài ra tập đoàn còn có các công ty con và liên kết làm dịch vụ mặt đất, suất ăn, cung cấp xăng dầu hàng không (SKYPEC) và hãng bay giá rẻ Pacific Airlines.
Cái khó của nghề hàng không là chi phí gần như cố định và rất lớn: máy bay đi thuê hoặc trả góp, lương phi công, bảo dưỡng. Nhiên liệu chiếm khoảng 30% tổng chi phí (theo tài liệu đại hội cổ đông 2026). Vì vậy chỉ cần giá nhiên liệu tăng một chút, phần lãi mỏng phía sau có thể biến mất. Năm 2025, cứ 100 đồng doanh thu, Vietnam Airlines chỉ giữ lại khoảng 6 đồng lãi cho cổ đông.
2. Động lực tăng trưởng: khách quốc tế và đội bay mới
Doanh thu đã quay về và vượt xa thời trước Covid. Năm 2025 doanh thu thuần đạt 121.207 tỷ đồng, cao hơn 23% so với năm 2019. Trong 5 năm từ đáy Covid 2020, doanh thu tăng bình quân 24,5% mỗi năm.
9 tháng 2026, doanh thu tăng tiếp 28,5% lên 114.265 tỷ đồng. Điều đáng chú ý là số khách chỉ tăng 4,3% (hơn 20 triệu lượt, theo Tuổi Trẻ). Phần lớn mức tăng doanh thu đến từ giá vé cao hơn, phụ thu nhiên liệu và khách quốc tế (đường bay dài, giá vé cao). Trong quý 3, doanh thu mảng quốc tế của công ty mẹ tăng gần 27%, còn mảng nội địa giảm 8,4%.
Kế hoạch của công ty (chưa phải dữ kiện) cho những năm tới:
- Thuê thêm 20 máy bay thân hẹp cho nhu cầu 2027–2028 để có thêm chỗ ngồi trong lúc chờ máy bay mới.
- 50 máy bay Boeing 737-8 đã đặt mua, nhưng theo Vietcap phải đến 2030–2032 mới giao.
- Thuê 12 máy bay thân rộng giai đoạn 2028–2030, cân nhắc mua thêm 20–30 chiếc cho 2031–2035.
- Máy bay chở hàng chuyên dụng đầu tiên khai thác từ quý 3/2026.
Như vậy năm 2027 hãng có thêm máy bay thuê để chở khách, nhưng đội bay lớn thật sự chỉ đến sau 2030.
3. Lợi thế cạnh tranh: thương hiệu quốc gia và vị thế ở sân bay
Lợi thế của Vietnam Airlines là quy mô và vị thế: hãng bay quốc gia, thị phần nội địa lớn nhất (42–45% tính cả nhóm, theo SHS), và có Nhà nước đứng sau khi gặp khó. Hai lần tăng vốn (2021 và 2025) cho thấy Nhà nước sẵn sàng cứu hãng.
Nhưng lợi thế đó không thể hiện ra ở biên lợi nhuận. Trước Covid (2016–2019), biên gộp chỉ quanh 11–15% và biên ròng dưới 3%. Nói cách khác, Vietnam Airlines có vị thế nhưng không có quyền tự định giá: khi chi phí tăng, hãng không đẩy hết sang giá vé được vì còn Vietjet, Bamboo và các hãng nước ngoài. Đây là đặc điểm chung của ngành hàng không trên thế giới, không riêng gì Vietnam Airlines.
4. Lịch sử tài chính: từ cú sập Covid đến hai năm lãi lớn
Hai năm 2024–2025 là thời kỳ đẹp nhất trong lịch sử gần đây của hãng: khách quốc tế quay lại, máy bay thiếu nên giá vé cao, giá nhiên liệu ở mức vừa phải. Năm 2024 còn có khoản lợi nhuận khác 5.217 tỷ đồng, phần lớn không lặp lại. Năm 2025 lợi nhuận đến chủ yếu từ hoạt động bay, nên chất lượng tốt hơn.
Sang 2026, câu chuyện đổi chiều theo từng quý:
- Quý 1/2026: lãi 4.515 tỷ đồng, cao nhất ít nhất 10 năm qua, nhờ mùa Tết.
- Quý 2/2026: lỗ 663 tỷ đồng. Giá nhiên liệu bay bình quân quý 2 khoảng 182 USD/thùng (theo Vietcap), gấp đôi giả định ban đầu. Hãng cắt khoảng 20% số chuyến trong tháng 4–5 để giảm lỗ. Theo Dân trí, đây là quý lỗ đầu tiên kể từ quý 1/2024.
- Quý 3/2026: lãi lại 320 tỷ đồng, giảm 56% so với cùng kỳ. Riêng công ty mẹ lỗ 284 tỷ đồng vì chi phí nhiên liệu tăng 61% (thêm 4.360 tỷ đồng), nhiều hơn phần doanh thu tăng thêm (3.785 tỷ). Hợp nhất vẫn lãi 320 tỷ trong khi công ty mẹ lỗ 284 tỷ, nghĩa là phần lãi đến từ các công ty con, công ty liên kết và các bút toán hợp nhất. BCTC hợp nhất không tách riêng lãi của từng công ty con, nên chúng tôi không biết chính xác công ty nào đóng góp bao nhiêu. Điều chắc chắn là mảng bay của chính Vietnam Airlines đã lỗ trong quý 3.
Chi tiết từng quý ở Phụ lục 2.
5. Lợi nhuận đã thành tiền chưa
Ở điểm này Vietnam Airlines làm tốt hơn nhiều doanh nghiệp khác. Hãng bay thu tiền vé trước khi bay, nên dòng tiền thường về sớm hơn lợi nhuận. Năm 2025, cứ 100 đồng lãi thì có khoảng 170 đồng tiền mặt từ hoạt động kinh doanh chảy về, một phần nhờ khấu hao lớn (gần 4.900 tỷ một năm) là chi phí không tốn tiền.
Dòng tiền đó được dùng để trả nợ. Cuối năm 2019, nợ vay và thuê tài chính khoảng 31.900 tỷ đồng. Đến 30/9/2026 chỉ còn 11.346 tỷ, trong khi tiền mặt và tiền gửi đạt 22.129 tỷ. Từ cuối năm 2025, lần đầu tiên trong ít nhất 10 năm, hãng có tiền ròng (tiền nhiều hơn nợ vay). Đến 30/9/2026 con số này khoảng 10.800 tỷ đồng.
Có thể bạn sẽ gặp nhận định “nợ phải trả gấp 7 lần vốn chủ”. Con số này đúng: 73.211 tỷ nợ phải trả so với 10.249 tỷ vốn chủ hợp nhất. Nhưng phần lớn khoản nợ đó là nợ vận hành như tiền phải trả nhà cung cấp và tiền vé khách đã trả trước, không phải nợ vay chịu lãi. Nợ vay thật chỉ 11.346 tỷ, trong đó 9.120 tỷ là ngắn hạn, và hãng đang giữ 22.129 tỷ tiền mặt và tiền gửi, gần gấp đôi nợ vay. Rủi ro thanh khoản trước mắt vì vậy thấp. Rủi ro thật nằm ở chỗ khác: nếu hãng lỗ kéo dài, vốn chủ mỏng có thể âm trở lại.
Riêng quý 2/2026, dòng tiền kinh doanh âm 1.587 tỷ đồng, cùng lúc với quý lỗ. Quý 3 dòng tiền dương trở lại 4.703 tỷ. Bảng cân đối từ quý 2/2026 còn có một điểm cần đối chiếu với BCTC gốc: khoản phải trả người bán giảm khoảng 16.500 tỷ, trong khi khoản người mua trả tiền trước tăng gần đúng chừng ấy. Nhiều khả năng đây là thay đổi cách phân loại (tiền vé bán trước) chứ không phải biến động kinh doanh, nhưng chúng tôi chưa kiểm chứng được.
6. Vốn đã được dùng vào đâu: ba năm trả nợ cũ, chưa có gì cho cổ đông
Trong 10 năm 2016–2025, hoạt động kinh doanh tạo ra khoảng 61.700 tỷ đồng tiền, chi mua tài sản cố định khoảng 16.500 tỷ. Phần lớn số còn lại đi trả nợ vay và nợ thuê máy bay. Từ sau Covid, cổ đông HVN chưa nhận lại cổ tức.
Để sống sót qua Covid, hãng phát hành thêm rất nhiều cổ phiếu. Vốn góp tăng từ 14.183 tỷ (2019) lên 22.144 tỷ (2021) rồi 31.115 tỷ (2025). Cổ đông cũ ngày trước Covid giờ chỉ còn giữ chưa đến một nửa tỷ lệ sở hữu cũ nếu không mua thêm.
Câu chuyện chưa dừng ở đó:
- Lỗ lũy kế còn 23.264 tỷ đồng (30/9/2026). Theo luật, hãng phải bù hết khoản lỗ này mới được chia cổ tức. Vietcap và SHS đều cho rằng việc này phải đến khoảng 2030–2032.
- Đợt tăng vốn thứ hai khoảng 13.000 tỷ đồng dự kiến trong 2026–2027 (theo SHS). Nếu phát hành ở mệnh giá 10.000 đồng như đợt trước trong khi thị giá 21.000 đồng, cổ đông không mua thêm sẽ bị pha loãng tiếp.
- Vẫn trong diện cảnh báo, không được margin. Từ 14/7/2026, HOSE chuyển HVN từ diện kiểm soát sang diện cảnh báo (Quyết định 592/QĐ-SGDHCM) và gỡ hạn chế giao dịch (Quyết định 593/QĐ-SGDHCM), cùng ngày 10/7/2026. Trước đó cổ phiếu chỉ được khớp lệnh trong phiên chiều; nay đã giao dịch cả ngày. Điều kiện để chuyển là vốn chủ và lợi nhuận sau thuế không âm. Nhưng HVN chưa ra khỏi diện cảnh báo được vì lợi nhuận chưa phân phối vẫn âm (−23.148 tỷ đồng ngày 30/6/2026), và vì thế nằm trong danh sách không được giao dịch ký quỹ (margin) quý 4/2026 của HOSE. Hệ quả cho nhà đầu tư: chừng nào lỗ lũy kế chưa bù xong, HVN nhiều khả năng còn bị cắt margin, nghĩa là bớt đi một nguồn tiền mua quan trọng trên thị trường Việt Nam.
- Thoái vốn: hãng đã được duyệt bán tối đa 49% SKYPEC, đang tìm nhà đầu tư cho Pacific Airlines, tạm hoãn bán TCS (theo Vietcap). Các thương vụ này nếu thành sẽ mang về tiền và có thể tạo lợi nhuận bất thường.
Chỉ số ROIC (lợi nhuận trên vốn đầu tư) không có ý nghĩa với HVN giai đoạn này vì vốn chủ âm nhiều năm và hiện tiền nhiều hơn nợ. Phân bổ vốn của ban lãnh đạo nên được đánh giá là trung bình: họ đã dùng dòng tiền tốt của 2024–2025 để giảm nợ đúng hướng, nhưng mọi quyết định lớn (tăng vốn, thoái vốn) đều phụ thuộc vào phê duyệt của Nhà nước và chậm.
7. Triển vọng quý 4/2026, cả năm 2026 và năm 2027
Quý 4/2026: nhiều khả năng quanh mức hòa vốn
Quý 4 vốn không phải mùa tốt của hãng. Ngay cả năm 2025, khi chưa có cú sốc nhiên liệu, quý 4 cũng chỉ lãi 433 tỷ với biên gộp 9,0%. Năm nay chi phí nhiên liệu cao hơn hẳn, nên khó kỳ vọng quý 4/2026 tốt hơn quý 3.
Chúng tôi không tìm được giá nhiên liệu bay tháng 10/2026 từ nguồn đáng tin, nên không đưa ra con số dự báo. Thay vào đó là hai mốc tham chiếu, chỉ để bạn hình dung:
- Nếu quý 4 lãi như quý 3 (320 tỷ): lợi nhuận sau thuế cả năm 2026 khoảng 4.490 tỷ đồng, giảm 41% so với 2025.
- Nếu quý 4 lỗ như quý 2 (663 tỷ): cả năm còn khoảng 3.510 tỷ đồng, giảm 54%.
Cả hai trường hợp đều vượt xa kế hoạch lợi nhuận trước thuế 510 tỷ đồng mà hãng đặt ra tại đại hội tháng 6. Kế hoạch đó được lập ngay sau quý nhiên liệu đắt nhất, nên rất thận trọng. Việc “vượt kế hoạch nhiều lần” vì vậy không phải tin tốt như báo chí hay giật tít.
Năm 2027: một biến số lớn và ba biến số nhỏ
Biến số lớn nhất là giá nhiên liệu. SHS lập ba kịch bản cho nửa cuối 2026: nếu giá Jet A1 bình quân 95 USD/thùng, lợi nhuận năm có thể gần 5.000 tỷ; nếu 140 USD/thùng, hãng có thể lỗ hơn 3.000 tỷ. Khoảng cách giữa hai đầu lên tới khoảng 8.000 tỷ đồng, lớn hơn cả lợi nhuận một năm tốt. Với năm 2027 cũng vậy: ai đoán đúng giá dầu sẽ đoán đúng HVN. Cuối tháng 6, Vietcap ghi nhận giá Jet A1 đã hạ về 112–115 USD/thùng khi căng thẳng Trung Đông dịu đi. Chúng tôi chưa có số liệu đáng tin về giá tháng 10.
Ba biến số nhỏ hơn:
- Chỗ ngồi tăng thêm. 20 máy bay thuê cho 2027–2028 giúp doanh thu tăng, nhưng máy bay thuê để lấp chỗ trống trong thời gian ngắn có thể đắt hơn, nên lợi nhuận trên mỗi chuyến chưa chắc cải thiện (nhận định của chúng tôi).
- Khách quốc tế tiếp tục là động lực, còn nội địa đang yếu (quý 3 giảm 8,4% ở công ty mẹ).
- Đợt tăng vốn 2. Nếu diễn ra trong 2027, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu sẽ bị chia nhỏ, kể cả khi tổng lợi nhuận tăng.
8. Giá 21.000 đồng đang trả cho kịch bản nào
Ở giá 21.000 đồng, bạn đang trả khoảng 16 năm lợi nhuận của 4 quý gần nhất (quý 4/2025 đến quý 3/2026, tổng 4.071 tỷ đồng). Nếu lấy lợi nhuận năm 2025, con số là 9 năm. Theo sổ sách, giá đang gấp khoảng 7 lần giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu (3.006 đồng), nhưng chỉ số này ít ý nghĩa khi vốn chủ còn mỏng vì lỗ lũy kế.
Chúng tôi dựng ba câu chuyện cho lợi nhuận cổ đông mẹ năm 2027, dùng số cổ phiếu hiện tại (chưa tính đợt tăng vốn 2):
| Kịch bản | LNST mẹ 2027 | P/E | Giá trị/cp | So với 21.000 đ |
|---|---|---|---|---|
| Xăng đắt kéo dài | 1.500 tỷ | 15 | 7.200 đ | −66% |
| Xăng hạ vừa phải | 5.000 tỷ | 11 | 17.700 đ | −16% |
| Quay lại thời 2024–2025 | 7.500 tỷ | 12 | 28.900 đ | +38% |
Giả định từng kịch bản:
- Xăng đắt kéo dài: giá nhiên liệu giữ quanh mức quý 2–3/2026, lợi nhuận chỉ nhỉnh hơn hòa vốn. P/E cao hơn (15) vì thị trường thường trả giá cao cho lợi nhuận ở đáy chu kỳ.
- Xăng hạ vừa phải: lợi nhuận phục hồi khoảng một nửa khoảng cách về mức 2025.
- Quay lại thời 2024–2025: giá nhiên liệu về vùng trước cú sốc, lợi nhuận tương đương 2024 (7.564 tỷ) và 2025 (7.204 tỷ).
Kết quả cho thấy giá hiện tại đã tính sẵn một kịch bản khá lạc quan, nằm giữa “xăng hạ vừa phải” và “quay lại thời đẹp”. Rủi ro giảm (−66%) lớn hơn cơ hội tăng (+38%). Đây là định giá thô để quyết định có nên nghiên cứu tiếp hay không, không phải giá mục tiêu.
Về giá cổ phiếu: HVN thấp hơn đỉnh 52 tuần (31.700 đồng giá đóng cửa ngày 05/11/2025) 34% và giảm 15,7% từ đầu năm. Giá đang nằm dưới đường trung bình 200 phiên (MA200 ≈ 22.950 đồng), nên MA200 là kháng cự. Đáy 52 tuần là 19.300 đồng (23/3/2026), đúng lúc giá nhiên liệu ở đỉnh.
9. Kết luận: theo dõi, chưa phải lúc nghiên cứu sâu
Điểm mạnh:
- Doanh thu vượt xa trước Covid, khách quốc tế tăng tốt.
- Bảng cân đối khỏe nhất nhiều năm: tiền ròng khoảng 10.800 tỷ, vốn chủ dương trở lại.
- Thu tiền trước, dòng tiền kinh doanh thường tốt hơn lợi nhuận.
Rủi ro:
- Lợi nhuận phụ thuộc gần như hoàn toàn vào giá nhiên liệu, thứ hãng không kiểm soát được.
- Đợt tăng vốn 2 có thể pha loãng cổ đông hiện hữu.
- Không có cổ tức ít nhất vài năm vì lỗ lũy kế còn hơn 23.000 tỷ. Cũng vì lỗ lũy kế, cổ phiếu còn trong diện cảnh báo và không được cấp margin.
Những câu hỏi cần trả lời trước khi xuống tiền:
- Giá Jet A1 thực tế trong quý 4/2026 là bao nhiêu? Hãng đã phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu cho 2027 chưa?
- Đợt tăng vốn 2 phát hành ở giá nào, bao giờ?
- Thoái vốn SKYPEC mang về bao nhiêu tiền?
Phán quyết của chúng tôi: Theo dõi. HVN là một cổ phiếu đặt cược vào giá dầu hơn là vào chất lượng doanh nghiệp. Thời điểm hợp lý để xem lại là khi giá nhiên liệu hạ rõ và kế hoạch tăng vốn 2 được công bố chi tiết.
Phụ lục 1: Kết quả kinh doanh 2016–2025 (tỷ đồng)
| Năm | Doanh thu | Tăng trưởng | LN gộp | Biên gộp | LN thuần HĐKD | LNST | LNST mẹ | Biên ròng | EPS (đ) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2016 | 70.089 | — | 10.843 | 15,5% | 2.067 | 2.105 | 2.055 | 2,9% | 1.685 |
| 2017 | 82.951 | 18,4% | 10.673 | 12,9% | 2.068 | 2.659 | 2.371 | 2,9% | 1.931 |
| 2018 | 96.811 | 16,7% | 12.056 | 12,4% | 2.356 | 2.599 | 2.335 | 2,4% | 1.747 |
| 2019 | 98.228 | 1,5% | 10.969 | 11,2% | 2.450 | 2.537 | 2.346 | 2,4% | 1.654 |
| 2020 | 40.538 | −58,7% | −7.437 | −18,4% | −11.898 | −11.178 | −10.927 | −27,0% | −7.704 |
| 2021 | 27.911 | −31,1% | −10.018 | −35,9% | −13.231 | −13.279 | −12.908 | −46,2% | −7.909 |
| 2022 | 70.410 | 152,3% | −2.876 | −4,1% | −11.218 | −11.223 | −11.298 | −16,1% | −5.102 |
| 2023 | 91.540 | 30,0% | 3.885 | 4,2% | −5.978 | −5.632 | −5.930 | −6,5% | −2.678 |
| 2024 | 106.696 | 16,6% | 14.656 | 13,7% | 3.199 | 7.958 | 7.564 | 7,1% | 3.416 |
| 2025 | 121.207 | 13,6% | 17.897 | 14,8% | 7.914 | 7.607 | 7.204 | 5,9% | 2.949 |
Phụ lục 2: Kết quả 9 quý gần nhất (tỷ đồng)
| Quý | Doanh thu | LN gộp | Biên gộp | Chi phí bán hàng + QLDN | LNTT | LNST | LNST mẹ | CFO |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Q3/2024 | 26.600 | 2.744 | 10,3% | 1.577 | 975 | 862 | 768 | 2.240 |
| Q4/2024 | 26.780 | 4.454 | 16,6% | 2.286 | 1.839 | 1.694 | 1.602 | 3.106 |
| Q1/2025 | 30.551 | 6.271 | 20,5% | 2.126 | 3.625 | 3.486 | 3.401 | 2.336 |
| Q2/2025 | 28.000 | 4.919 | 17,6% | 1.529 | 3.091 | 2.956 | 2.856 | 2.158 |
| Q3/2025 | 30.371 | 3.805 | 12,5% | 2.457 | 866 | 732 | 617 | 4.801 |
| Q4/2025 | 32.285 | 2.902 | 9,0% | 2.646 | 586 | 433 | 330 | 2.983 |
| Q1/2026 | 36.883 | 7.311 | 19,8% | 2.451 | 4.680 | 4.515 | 4.388 | 5.399 |
| Q2/2026 | 38.303 | 1.612 | 4,2% | 2.237 | −498 | −663 | −792 | −1.587 |
| Q3/2026 | 39.078 | 2.867 | 7,3% | 2.603 | 470 | 320 | 145 | 4.703 |
- Lỗ quý 2/2026 ở đây (663 tỷ) là số suy ra từ BCTC bán niên đã soát xét (lãi 6 tháng 3.852 tỷ) trừ quý 1 (4.515 tỷ). Dân trí đưa tin lỗ 606 tỷ theo BCTC quý 2 lúc mới công bố. Chênh lệch nhiều khả năng do điều chỉnh khi soát xét.
- Doanh thu 9 tháng 2026 theo báo chí là 114.480 tỷ (tổng doanh thu); bảng này dùng doanh thu thuần 114.265 tỷ.
Phụ lục 3: Dòng tiền, nợ vay và vốn chủ (tỷ đồng)
| Thời điểm | CFO | Mua TSCĐ | FCF | Tiền + ĐTNH | Nợ vay & thuê TC | Tiền ròng | Vốn chủ (mẹ) | Vốn góp | LN chưa phân phối |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2018 | 8.925 | 1.019 | 7.906 | 6.478 | 38.466 | −31.987 | 18.121 | 14.183 | 3.365 |
| 2019 | 8.819 | 1.267 | 7.551 | 6.536 | 31.934 | −25.398 | 18.147 | 14.183 | 2.612 |
| 2020 | −6.456 | 516 | −6.971 | 2.141 | 34.051 | −31.910 | 6.331 | 14.183 | −9.329 |
| 2021 | −6.759 | 489 | −7.249 | 3.943 | 34.800 | −30.856 | 1.508 | 22.144 | −21.960 |
| 2022 | 6.894 | 952 | 5.941 | 3.387 | 28.268 | −24.881 | −11.563 | 22.144 | −35.072 |
| 2023 | 1.004 | 318 | 686 | 3.471 | 27.368 | −23.897 | −17.515 | 22.144 | −41.057 |
| 2024 | 9.441 | 320 | 9.120 | 5.642 | 20.483 | −14.841 | −10.017 | 22.144 | −33.614 |
| 2025 | 12.278 | 1.577 | 10.701 | 17.955 | 13.104 | 4.851 | 5.931 | 31.115 | −26.686 |
| 30/9/2026 (9 tháng) | 8.515 | 3.425 | 5.090 | 22.129 | 11.346 | 10.783 | 9.350 | 31.115 | −23.264 |
- Nợ vay & thuê TC = vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn + dài hạn. Tiền + ĐTNH = tiền và tương đương tiền + đầu tư tài chính ngắn hạn (chủ yếu tiền gửi có kỳ hạn).
- Từ quý 2/2026, phải trả người bán giảm từ 32.962 tỷ (31/3) xuống 16.388 tỷ (30/6), còn người mua trả tiền trước tăng từ 262 tỷ lên 17.504 tỷ. Chưa đối chiếu được với thuyết minh BCTC gốc.
Phụ lục 4: Cách tính định giá và các con số trong bài
- Vốn hóa: 21.000 đ × 3.110.208.001 cp = 65.314 tỷ đồng.
- P/E 4 quý gần nhất: LNST mẹ quý 4/2025 đến quý 3/2026 = 330 + 4.388 − 792 + 145 = 4.071 tỷ; 65.314 ÷ 4.071 = 16,0 lần. Theo năm 2025: 65.314 ÷ 7.204 = 9,1 lần. EPS năm 2025 do VNDirect công bố (2.949 đ) tính trên số cổ phiếu bình quân trước đợt tăng vốn, nên không dùng để tính P/E hiện tại.
- P/B: vốn chủ cổ đông mẹ 30/9/2026 = 10.249 − 900 (lợi ích cổ đông không kiểm soát) = 9.350 tỷ; ÷ 3,11 tỷ cp = 3.006 đ/cp; 21.000 ÷ 3.006 = 7,0 lần.
- Tiền ròng 30/9/2026: (tiền 5.285 + đầu tư ngắn hạn 16.843) − (vay ngắn hạn 9.120 + vay dài hạn 2.226) = 10.783 tỷ.
- Kịch bản: giá trị/cp = LNST mẹ 2027 × P/E ÷ 3.110.208.001 cp. Xăng đắt: 1.500 × 15 ÷ 3,11 = 7.200 đ. Xăng hạ vừa: 5.000 × 11 ÷ 3,11 = 17.700 đ. Thời đẹp: 7.500 × 12 ÷ 3,11 = 28.900 đ (làm tròn trăm đồng).
- Hai mốc tham chiếu cả năm 2026: LNST hợp nhất 9 tháng 4.172 tỷ + 320 = 4.491 tỷ (−41% so với 7.607 tỷ năm 2025); 4.172 − 663 = 3.509 tỷ (−54%).
- Lỗ 2020–2023 (cổ đông mẹ): 10.927 + 12.908 + 11.298 + 5.930 = 41.063 tỷ đồng.
- Doanh thu 9 tháng: 114.265 ÷ 88.922 − 1 = +28,5%. LNST 9 tháng: 4.172 ÷ 7.174 − 1 = −41,9%. LNST mẹ 9 tháng: 3.741 ÷ 6.874 − 1 = −45,6%.
- Giá: 21.000 ÷ 31.700 − 1 = −33,8%; 21.000 ÷ 24.900 (đóng cửa 31/12/2025) − 1 = −15,7%. MA200 = trung bình 200 giá đóng cửa ngày gần nhất = 22.953 đ.
- CAGR doanh thu 5 năm (2020–2025): (121.207 ÷ 40.538)^(1/5) − 1 = 24,5%.
Phương pháp & nguồn: Phiên này không truy cập được dữ liệu TCBS, nên số liệu BCTC hợp nhất (năm và quý) lấy từ API tài chính của VNDirect (Finfo), đã đối chiếu khớp với số báo chí đưa về quý 3/2026 (doanh thu thuần 39.078 tỷ, LNST 320 tỷ, LNST mẹ 145 tỷ, tổng tài sản 83.460 tỷ). Giá đóng cửa, đỉnh/đáy 52 tuần, MA200 tính từ dữ liệu nến ngày Entrade/DNSE (nguồn mà scripts/refresh_bars.py dùng), số cổ phiếu lưu hành từ VNDirect. Kế hoạch, giá nhiên liệu và bình luận: Tuổi Trẻ 31/10, VietnamBiz, Tuổi Trẻ 28/6, Vietcap (29/6), MoneyF dẫn SHS (27/7), Dân trí. Diện cảnh báo và margin: Doanh Nhân, Vietstock (13/7), CafeF (8/9), VnBusiness (6/10). Truy cập ngày 03/11/2026. Các kịch bản định giá là giả định của chúng tôi, không phải dự báo. Bài viết là quan điểm phân tích, không phải khuyến nghị mua/bán chứng khoán.

